Tin tức

Tiêu diệt ngoại ký sinh trùng trong ao nuôi

Tiêu diệt ngoại ký sinh trùng trong ao nuôi

Ngoại ký sinh trùng là một trong những mối nguy tiềm ẩn nhưng thường bị xem nhẹ trong ao nuôi tôm và cá. Chúng bám ngoài da, mang hoặc mang theo từ nguồn nước, con giống, dụng cụ hoặc sinh vật trung gian, gây ra các tổn thương cơ học nghiêm trọng – từ xây xước, viêm nhiễm đến giảm hô hấp và suy kiệt sức đề kháng của vật nuôi. Nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, ngoại ký sinh không chỉ làm chậm tăng trưởng mà còn tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm thứ cấp xâm nhập, gây bùng phát dịch bệnh trên diện rộng.

Vậy làm sao để tiêu diệt triệt để ngoại ký sinh trùng trong ao nuôi mà vẫn đảm bảo an toàn cho hệ sinh thái ao? Bài viết dưới đây sẽ giúp người nuôi nhận biết, đánh giá mức độ nhiễm và lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp theo từng giai đoạn nuôi.

Có hơn 45.000 loài được biết đến trong phân ngành giáp xác ký sinh trên cá. Hầu hết có thể được nhìn thấy bằng mắt thường khi bám vào mang, thân và vây của vật chủ. Heckmann R (2003), các nhóm giáp xác ký sinh, đa số là ngoại ký sinh trùng thuộc phân lớp copepod, branchiura, và isopod. Chúng tồn tại với số lượng rất lớn và phân bố trong tất cả các thủy vực nước ngọt, lợ, mặn.

Xem thêm: Tiêu diệt bệnh nhiễm ký sinh trùng trên cá nuôi

Bệnh ký sinh trùng trên cá do giáp xác chân chèo (Ergasilids)

Nấm thuỷ mi còn ký sinh gây chết trứng

Nấm thuỷ mi còn ký sinh gây chết trứng

Cấu tạo của Ergasilids biến đổi như đầu biến thành móc bám, chúng ít khi chọn lựa vật chủ ký sinh và thậm chí còn là loài gây bệnh cơ hội (Johnson SC và các cộng sự, 2004).

Dấu hiệu bệnh lý: Ergasilids bám trên mang và tiết ra chất nhờn, gây lỡ loét. Sau đó lan ra ngoài lớp biểu mô, dẫn đến các mạch máu bị tắc nghẽn, do nhiễm trùng kéo dài, có thể kéo dài trên các vùng rộng, giảm chức năng hô hấp của mang (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011). Mang bị tổn thương, làm cá ngạt thở, bỏ ăn hoặc ăn yếu và dẫn đến chết cá (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Chẩn đoán: Phát hiện Ergasilids bám vào mang cá, bề mặt cơ thể, khoang mũi và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Marquardt WC và cộng sự, 2000).

Điều trị và xử lý: Xử lý bằng cách kết hợp CuSO4 0,5 ppm và FeSO4 2 ppm trong 6-9 ngày. Nước muối 3%, sau đó ngâm kéo dài 0,2% trong 3 tuần. Biện pháp kiểm soát tốt nhất là không đưa cá bị nhiễm vào hồ và ao nuôi (Marquardt WC, Demaree RS, Grieve B, 2000).

Bệnh do trùng mỏ neo (Lernaeidae)

Bệnh trùng mỏ neo

Bệnh trùng mỏ neo

Theo Abowei JFN, Ezekiel EN (2011), trùng mỏ neo là ký sinh trùng phổ biến và rất nguy hiểm đối với nhiều loài cá, là loài ký sinh từ cá giống đến cá thương phẩm. Hình dạng ngoài của Lernaea, cơ thể gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng. Phần đầu con đực giống hình dạng Cyclops sống tự do, còn con cái sau khi giao phối sống ký sinh hình dạng thay đổi rất lớn. Cơ thể kéo dài, các đốt hợp lại thành ống hơi vặn mình, phần đầu kéo dài thành sừng giống mỏ neo đâm thủng bám chắc vào tổ chức ký chủ nên còn có tên là trùng mỏ neo.

Dấu hiệu bệnh lý: Trùng dùng móc cắm sâu vào thân cá, vào các gốc vây, hốc mắt cá làm thành những vết thương sưng tấy đỏ, chảy máu, cá thường xuyên cọ xát hoặc bơi lội không bình thường. Xung quanh vết thương thường có nấm thủy mi phát triển và vi trùng trong nước có điều kiện xâm nhập làm bệnh thêm trầm trọng. Ký sinh trùng gây thiệt hại nghiêm trọng khi nhiễm nặng (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011).

Chẩn đoán: Có thể nhìn thấy bằng mắt thường và kiểm tra bằng kính hiển vi từ da, mang và vây cá và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Điều trị và xử lý: Lernaea cực kỳ khó xử lý vì chỉ ấu trùng sống tự do mới dễ xử lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008). Sử dụng nước muối 1% trong 3 ngày, formalin 250 ppm trong 30 đến 60 phút (Hopla CE, Durden LA, Keirans JE, 1994). Các hóa chất khác như thuốc organophosphate và organ halogen với kali permanganat (KMnO4) (Kabat Z, 1985). Gần đây, thuốc Dimpling (R) (Philips Duper, sản phẩm Hà Lan) đã được tìm thấy có hiệu quả đối với trùng trưởng thành ở nồng độ 0,03-0,05 ppm.

Bệnh do rận cá Argulidae (Branchiura)

Da cá có búi nấm trắng, trứng cá trắng đục. Sợi nấm đâm vào thịt, đầu lơ lửng

Da cá có búi nấm trắng, trứng cá trắng đục. Sợi nấm đâm vào thịt, đầu lơ lửng

Rận cá ký sinh trên tất cả giai đoạn của cá gây bệnh làm chết cá hương, cá giống, không làm chết cá thịt, cá bố mẹ, nhưng làm cá bị tổn thương, cơ thể bị suy yếu, tạo điều kiện cho vi trùng và nấm thủy mi phát triển, làm cho bệnh thêm nghiêm trọng.

Dấu hiệu bệnh lý: Rận cá dùng vòi hút máu cá, tiết và tiêm một lượng lớn chất dịch tiêu hóa – đây là chất độc đối với cá, làm cho vết thương trên da bị sưng đỏ, trên thân cá nhiều vết rận đốt sưng tấy đỏ. Sự kích ứng dai dẳng gây ra dẫn đến cá bỏ ăn, và ngừng phát triển, trầy xước hoặc liên tục nhảy lên khỏi nước và bơi thất thường (Kabat Z, 1985). Có thể nhìn thấy ký sinh trùng bằng mắt thường, chiều dài từ vài milimét đến khoảng 30 mm và quan sát bằng kính hiển vi các dấu hiệu bên ngoài như xuất huyết và da loét và mang.

Điều trị và xử lý: Sử dụng các hóa chất thông thường như muối (NaCl), formaldehyde, kali permanganat (2-5 mg/l) và formalin (Carpenter JW, 2005). Cách điều trị hiệu quả nhất chống lại bệnh là sử dụng organophosphates. Organophosphates 2-3 liều trong một tuần, Emamectin benzoate cũng đã được sử dụng để tiêu diệt Argulus (Noaman V, Chelongar Y, Shahmoradi AH, 2010).

Tìm hiểu thêm: Dấu hiệu nhận biết bệnh ngoại ký sinh trên cá

Bệnh do isopod ký sinh

Isopoda là loài ký sinh giáp xác lớn nhất được tìm thấy trên cá (dài 20-50 mm). Một số ấu trùng isopod được nhìn thấy trong các khoang và miệng của cá (Heckmann R, 2003). Loại bỏ các ký sinh trùng bằng thủ công và quản lý môi trường tối ưu trong quá trình nuôi. Việc xử lý hóa học cho cá nuôi lồng là không thực tế; Trichlorfon (Dipterex) ở nồng độ 0,5-0,75 ppm trong 24 giờ (Heckmann R, 2003), tuy nhiên hiện nay chất này đã bị cấm theo Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Phương pháp phòng bệnh ký sinh trùng trên cá:

  • Kiểm tra cá giống: Lựa chọn giống có nguồn gốc xuất xứ, sạch bệnh, xét nghiệm PCR để sàng lọc những con bị nhiễm bệnh.
  • Cấp nước sạch vào ao, sử dụng túi lọc để ngăn chặn ấu trùng ốc, các loại nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
  • Bổ sung chế phẩm sinh học lợi khuẩn đường ruột cho thủy sản.
  • Cải tạo ao trước khi thả nuôi: Dùng vôi sống CaO (10-15 kg/ 100m2) rải xuống đáy ao và phơi nắng từ 3-7 ngày để diệt trùng, CaO từ 1,5-2,0 kg/m2 khi không thể rút cạn nước trong ao nuôi. Tốt nhất nên có hệ thống lắng, lọc và xử lý nước cấp để hạn chế mầm bệnh.
  • Xử lý nước và đáy ao trong quá trình nuôi: Dùng 1-1,5 kg muối ăn và 2 kg vôi/ 100m3 nước, hoặc định kỳ xử lý nước ao 15-20 ngày/ lần bằng các chất khử trùng, hút bùn đáy ao 2 tháng/ lần đối với cá < 300g và 1 tháng/ lần đối với cá > 300g.
  • Kiểm tra cá trong quá trình nuôi: Định kỳ xét nghiệm PCR Pockit để phát hiện nhanh mầm bệnh. Nếu phát hiện có cá bị nhiễm trong ao thì cần phải cách li đàn cá, khử trùng dụng cụ nuôi.

Ngoài ra, lá xoan trị bệnh trùng mỏ neo và trùng bánh xe rất tốt. Ngâm lá xoan trong nước ao nuôi cá với liều lượng nếu lá non 300g/1m3 nước, bó thành từng bó chắt lại sau thời gian ngâm 5 – 7 ngày tùy thuộc nhiệt độ sau đó nên vớt ra để tránh ô nhiễm ao.

Bằng cách xác định được chính xác nguyên nhân và áp dụng theo một số biện pháp nêu trên có thể hạn chế thấp nhất thiệt hại do các bệnh ký sinh trùng giáp xác gây ra.

Hy vọng rằng, với những chia sẻ vừa rồi về cách phòng và diệt ngoại ký sinh trùng trong ao nuôi sẽ hữu ích cho bà con, ứng dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả.

Ngọc Gia Phát – Giải pháp toàn diện cho ngành thủy sản

Công ty Ngọc Gia Phát là đơn vị nhập khẩu và phân phối các dòng sản phẩm chuyên biệt như chế phẩm sinh học, yucca nguyên liệu, dinh dưỡng bổ sung, khoáng nguyên liệu, phụ gia và hóa chất xử lý nước. Chúng tôi cung cấp giải pháp toàn diện giúp người nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.

Địa chỉ: Lô R28A đường số 8, KCN Hải Sơn mở rộng (GĐ 3+4), X. Đức Hòa Hạ, H. Đức Hoà, T. Long An
Phone/Zalo: 0918 978 5190947 487 6850903 405 117
Email: ngocgiaphat.co@gmail.com – www.ngocgiaphat.com
Facebook: nlts.NgocGiaPhat