Tin tức

Khí độc trong ao có tác động thế nào đến vật nuôi?

Khí độc trong ao có tác động thế nào đến vật nuôi

Khí độc trong ao có tác động thế nào đến vật nuôi?

Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam phát triển khá  nhanh, đã thu hút sự tham gia của khá nhiều hộ nuôi. Trong quá trình nuôi, để thu được lợi nhuận cao, bà con nuôi thâm canh mật độ cao, đã sử dụng nhiều loại hóa chất, kháng sinh nên các đối tượng nuôi rất dễ bị mắc bệnh. Và điều khiến nhiều hộ nuôi lo lắng nhất chính là sự xuất hiện của khí độc trong ao.

Khí độc trong ao nuôi chính là các chất khí NH3 và NO2 và H2S (hydrogen sulfide). Trong đó, H2S là chất độc không màu, mùi trứng thối, ít tan trong nước. Nếu so về độ độc, H2S cao gấp nhiều lần so với NH3 và NO2, chỉ cần 0,01 ppm là có thể làm chết tôm.

Nguyên nhân gây khí độc NH3 và NO2

Các khí độc trong ao NH3 và NO2 được sản sinh từ quá trình nitrat hóa, do một số nguyên nhân:

Các chất hữu cơ phân hủy

– Thức ăn thừa: Trong quá trình cho tôm ăn, phần lớn thức ăn dư thừa và lắng đọng xuống đáy ao, thức ăn nhiều đạm tích tụ, hòa vào nước làm tiêu tốn oxy và xuất hiện nhiều khí độc trong ao nuôi.

– Chất thải từ tôm: Thông thường tôm chỉ hấp thụ hết khoảng 30% thức ăn, còn lại sẽ chuyển hóa thành chất thải và bài tiết vào nước. Đây là nguyên nhân số một sản sinh ra khí độc trong ao. Tôm càng lớn, càng ăn nhiều và đào thải ra càng nhiều. Dẫn đến lượng khí độc ngày càng cao.

– Xác tảo tàn, xác phiêu sinh vật, côn trùng, vỏ tôm phân hủy cũng là một trong những nguyên nhân sinh ra khí độc.

Do thiết kế của ao nuôi tôm

Nhiều ao có thiết kế hình ống xương nhô cao hơn bề mặt bạt làm cản trở việc thoát thức ăn thừa ra rún ao. Ngoài ra, thiết kế và vị trí đặt dàn quạt trong ao chưa hợp lý, chưa phát huy tác dụng gom phân thừa nhanh nhất dẫn đến tích tụ chất thải dưới đáy ao, lâu ngày sinh khí độc.

Nguyên nhân từ nguồn nước

Nguồn nước cấp vào ao nuôi bị ô nhiễm, chứa xác thực vật, xác động vật phân hủy, phân bón dư thừa từ các ruộng hoa màu như U-rê, NPK cũng là một nguyên nhân sinh khí độc trong ao.

Nguyên nhân từ mưa

Mưa cũng làm cho khí độc có điều kiện tiếp xúc với tôm, chẳng hạn:

– Trời nhiều mây sẽ che ánh sáng mặt trời làm tảo không thể quang hợp, tảo không tạo ra oxy mà còn sử dụng oxy do quá trình hô hấp tự nhiên. Khi oxy hòa tan thấp, khí độc H2S sinh ra nhiều và phân tán đến khu vực cho ăn, khiến cho tôm khỏe trở nên yếu và nhiễm bệnh.

– pH thấp: Nước mưa làm tăng axit trong nước, làm cho pH nước ao giảm thấp. pH thấp làm cho H2S, NO2 trở nên nguy hiểm hơn, khí H2S cực độc (100%) khi pH = 5 và không độc (0%) khi pH = 10.

– Sự phân tầng nước ao: Khi mưa lớn kéo dài làm phân tầng giữa nước ngọt phía trên và nước mặn bên dưới. Điều này làm cản trở oxy hòa tan xuống tầng nước dưới, làm tôm stress và tăng độc tính của khí độc.

– Sóng trên mặt nước: Nếu trời mưa kèm theo gió mạnh từ 15 km/giờ trở lên sẽ tạo ra các đợt sóng mạnh trên mặt nước, đồng thời tạo ra luồng nước dưới đáy ao. Điều này làm cho chất thải ở đáy ao bị khuấy động, khí độc thoát ra và bao phủ khắp khu vực đáy ao.

Nguyên nhân gây ra khí độc H2S

Hydro sulfua H2S

Hydro sulfua H2S

H2S có chung 1 số nguyên nhân gây ra NH3 và NO2 giống như trên, bên cạnh đó còn có tác nhân do liên quan đến một số dạng ao nuôi.

Những ao nước trong quá lâu làm lab-lab (các mảng cợn dưới nước gồm vi sinh vật và nguyên sinh động vật) phát triển. Sau đó tảo xuất hiện và làm chết lab-lab. Xác lab-lab bị phân hủy yếm khí (trong điều kiện không có không khí) chính là nguyên nhân sinh ra H2S.

Dạng ao nuôi trên cát lót bạt. Trong thời gian nuôi, bùn và nước từ ao rò rỉ vào đáy cát, gây ra quá trình phân hủy yếm khí tại đây, sinh ra H2S. H2S thẩm thấu ngược từ cát vào ao nuôi.

Ao nuôi trên nền đất phèn có pH đáy thấp, khi lượng chất hữu cơ trong nước tăng cũng góp phần tạo ra H2S.

Ảnh hưởng của khí độc trong ao nuôi tôm

Ảnh hưởng môi trường từ khí độc trong ao nuôi tôm rất lớn, chỉ cần nồng độ H2S từ 0,01 – 0,02 mg/l đã đủ khiến tôm bị nhiễm độc và chết hàng loạt

Ammonia tồn tại trong môi trường nước ở hai dạng NH4+ (dạng ion) và NH3 (dạng không ion), dạng ion ít gây độc cho tôm, trong khi đó dạng không ion lại gây độc cho tôm. Hàm lượng NH3 hiện diện trong môi trường nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó pH và nhiệt độ là hai hai yếu tố quan trọng nhất, nhìn chung nếu nhiệt độ càng cao, pH càng cao, hàm lượng oxy thấp thì tính độc NH3 càng cao, tuy nhiên nếu độ mặn gia tăng thì tính độc của chúng giảm chút ít nhưng không đáng kể.

Amoniac(NH3) gây độc cho tôm, biểu hiện rõ nhất là tôm chậm tăng trưởng, giảm ăn, nổi đầu, chết dần hàng ngày, nếu tình trạng ao kéo dài sẽ giảm sức đề kháng, tích tụ NH3 nhiều trong cơ thể và dẫn đến nhiễm bệnh khác: phân trắng, EMS, hội chứng gan tụy cấp, đốm trắng, Taura, đen mang, hoại tử cơ, …

NO2 cũng là 1 loại khí độc thường gặp trong ao nuôi. Khi tôm hấp thụ phải khí độc NO2 sẽ gây cho tôm như: tôm thiếu linh hoạt, lờ đờ, chậm tăng trưởng và bắt mồi kém, đôi khi phát hiện tôm chết ở dưới đáy ao hoặc trong vó.

Hàm lượng NH3 và NO2 cao trong môi trường nước gây độc trên tôm nuôi, biểu hiện rõ nhất là tôm chậm tăng trưởng, giảm ăn, nổi đầu, chết dần hàng ngày, nếu tính trạng kéo dài tôm sẽ giảm sức đề kháng, tích tụ NH3 và NO2 nhiều trong cơ thể và dẫn đến dễ nhiễm bệnh khác như phân trắng, EMS, hội chứng gan tụy cấp, đen mang, đốm trắng, hoại tử cơ…

Dấu hiệu tôm bị nhiễm khí độc

tôm thẻ chân trắng

bàn tay cầm 3 con tôm thẻ chân trắng

Chúng tôi sẽ liệt kê dưới đây một số cách nhận biết cơ bản khi tôm bị nhiễm khí độc để bà con dễ quan sát. Trong môi trường nhiều khí độc, tôm sẽ có một số biểu hiện sau:

  • Tôm bơi lờ đờ trên mặt nước, tấp mé bờ, bỏ ăn.
  • Khí độc gây ngạt cho tôm dẫn đến tôm nổi đầu
  • Tôm mềm vỏ, lột xác không cứng, chậm lớn
  • Tôm bị tổn thương mang, phù thủng cơ
  • Tôm tích tụ nhiều khí độc trong cơ thể bị giảm sức đề kháng và dẫn đến dễ nhiễm bệnh như phân trắng, EMS, hội chứng gan tụy cấp, đen mang, …
  • Tôm dễ mẫn cảm với điều kiện bất lợi của môi trường như nhiệt độ, oxy…
  • H2S ức chế sự tách oxy ở hồng cầu, ngăn cản tôm lấy oxy
  • H2S làm mòn các mô ở dạ dày, gan, ruột, tụy của tôm.

Biện pháp phòng ngừa khí độc

  • Cải tạo ao nuôi hoàn chỉnh, bùn và chất cặn bã phải được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi ao nuôi trước khi bắt đầu vụ mới.
  • Sử dụng các sản phẩm vi sinh chất lượng và đáng tin cậy có chứa nhóm vi khuẩn nitrat (Nitrosomonas spp và Nitrobacter spp) định kỳ và liên tục suốt vụ.
  • Sử dụng kết hợp Yucca định kỳ để giảm NH3, thông qua đó giảm hàm lượng NO2. Sử dụng enzyme thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy hữu cơ.
  • Duy trì mật độ tảo có lợi trong ao ổn định.
  • Cung cấp đầy đủ oxy trong ao nuôi, bố trí quạt nước hợp lý tránh các “góc chết” trong ao và siphon loại bỏ chất hữu cơ thường xuyên.
  • Quản lý cho ăn tốt, tránh cho ăn dư thừa.

Xử lý sự cố phát sinh khí độc NO2 trong ao nuôi

Chất lượng môi trường nước

Chất lượng môi trường nước

Rất nhiều ao nuôi tôm chân trắng, chiếm khoảng 80% khi kiểm tra khí độc NO2 đều cho thấy chúng hiện diện với hàm lượng cao, cá biệt có những trường hợp hàm lượng khí độc NO2 vượt ngưỡng cho phép khi tôm nuôi chưa đạt tới 30 ngày tuổi.

NO2 và NH3 thường xuất hiện trong ao tôm chân trắng, tuy nhiên nhiều trường hợp chỉ có NO2 tồn tại ở mức cao, trong khi NH3 thì có hàm lượng thấp hoặc không phát hiện. NO2 rất ít khi được phát hiện trong ao nuôi tôm sú, nhưng với tôm chân trắng thì NO2 thực sự là vấn đề mà người nuôi tôm tại Việt Nam thường gặp phải. Rất nhiều người nuôi tôm quản lý thức ăn rất tốt, không có tình trạng dư thừa, nhưng NO2 vẫn xuất hiện trong ao nuôi của họ. Có ba nguyên nhân chính yếu dẫn đến tình trạng trên:

Tôm chân trắng được nuôi với mật độ cao, do đó hàng ngày một lượng lớn thức ăn được cho vào ao nuôi, mặc dù thức ăn không dư thừa nhưng thực tế chỉ có khoảng 30% – 40% lượng thức ăn ăn vào hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng (để có FCR 1:1), khoảng 60 % – 70% lượng thức ăn bài tiết ra ngoài và gây nên tình trạng ô nhiễm hữu cơ trong ao nuôi và qua đó làm phát sinh NH3 và NO2.

Vi sinh vật hữu ích không tồn tại trong ao nuôi hoặc tồn tại với mật số rất thấp không đủ để chuyển hoá hoàn toàn các khí độc thành NO3 không độc cho tôm.

Hàm lượng oxy không được cung cấp đầy đủ dẫn đến chu trình Nitrat hoá không diễn ra hoàn toàn và dẫn đến việc tích tụ NO2 trong ao nuôi (như giải thích ở trên), bên cạnh đó nó cũng làm giảm mật số vi sinh vật hữu ích trong ao.

Một trong những quan sát cảm quan dễ thấy nhất khi ao nuôi có sự tồn tại của NO2 là tôm nuôi thiếu linh hoạt, lờ đờ, chậm tăng trưởng và bắt mồi kém, đôi khi phát hiện tôm chết ở dưới ao, hoặc trong vó mà không đánh giá được nguyên nhân ban đầu.

Ngọc Gia Phát – Nhập khẩu & Phân phối nguyên liệu hóa chất hàng đầu

Chúng tôi tự hào là đối tác đáng tin cậy trong lĩnh vực cung cấp nguyên liệu, hóa chất phục vụ ngành thủy sản, chăn nuôi, thú y và nông nghiệp. Chúng tôi chuyên cung cấp các sản phẩm chất lượng cao như chế phẩm sinh học, Yucca, hóa chất xử lý nước và dinh dưỡng bổ sung, đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của doanh nghiệp sản xuất thuốc… Đồng thời, chúng tôi luôn đồng hành cùng bà con nông dân trong hành trình phát triển ao nuôi bền vững.

Địa chỉ: Lô R28A đường số 8, KCN Hải Sơn mở rộng (GĐ 3+4), X. Đức Hòa, T. Tây Ninh
Phone/Zalo: 0946 876 019 – 0942 89 30 31
Email: ngocgiaphat.co@gmail.com – www.ngocgiaphat.com
Facebook: nlts.NgocGiaPhat